Trong Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Tố tụng hành chính (TTHC) năm 2015 đều có quy định ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ là một trong các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án . Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ của Tòa án cả trong Tố tụng dân sự và TTHC có thể hiểu là Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án, nhưng không thể tự mình xác minh, thu thập chứng cứ, vì có sự ngăn cách về địa giới lãnh thổ hoặc giữa các đơn vị hành chính, yêu cầu Tòa án khác trong lãnh thổ Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền khác ở nước ngoài tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ.
Biện pháp thu thập chứng cứ này được quy định trong Luật TTHC, có ý nghĩa giúp Tòa án thu thập đầy đủ chứng cứ, góp phần cho việc giải quyết vụ án hành chính (VAHC) được nhanh chóng và chính xác. Các quy định liên quan về vấn đề này trong Luật TTHC năm 2015 hiện nay vẫn còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, làm ảnh hưởng đến việc thu thập chứng cứ, giải quyết VAHC của Tòa án.
1. Những bất cập trong việc ủy thác thu thập tài liệu, chứng cứ trong tố tụng hành chính
1.1. Một số biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ thông qua ủy thác mà luật quy định không phù hợp với vụ án hành chính
Trong quá trình giải quyết VAHC, Tòa án có thể ra quyết định ủy thác để Tòa án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập tài liệu, chứng cứ, xác minh tình tiết của VAHC . Theo quan điểm của chúng tôi thì các biện pháp thu thập chứng cứ được ủy thác quy định rõ ràng, liệt kê như vậy sẽ giúp cho Tòa án áp dụng được dễ dàng thống nhất, nhưng chỉ phù hợp trong việc áp dụng giải quyết các vụ án dân sự, chứ đối với VAHC thì không hoàn toàn phù hợp. Bởi vì sự khác biệt cơ bản giữa vụ án dân sự và VAHC là ở đối tượng khởi kiện cho nên dẫn đến Tòa án áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ thông qua ủy thác cũng có sự khác nhau.
Biện pháp thu thập chứng cứ thông qua lấy lời khai của đương sự tức là các đương sự, có thể là người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ án, họ là người chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi phán quyết của Tòa án, do đó họ sẽ là người đầu tiên đưa ra những tài liệu, chứng cứ chứng minh những yêu cầu hay việc phản đối yêu cầu của người mình đối với người khác là có căn cứ và đúng pháp luật. Đương sự là người biết rõ hơn ai hết những tình tiết, sự kiện của vụ án, khi tham gia vụ án thì đương sự phải tự viết bản khai để trình bày những sự việc, những yêu cầu liên quan trong vụ án. Khi đương sự chưa có bản khai hoặc bản khai không đầy đủ, rõ ràng thì Thẩm phán sẽ tiến hành lấy lời khai của đương sự .
Biện pháp thu thập chứng cứ bằng biện pháp xem xét, thẩm định tại chỗ thực hiện khi có những chứng cứ liên quan trong vụ án nhưng không thể giao nộp cho Tòa án được mà bắt buộc Tòa án phải xuống tận nơi có chứng cứ mới có thể xem xét, ghi nhận, thu thập được về chứng cứ đó. Xem xét thẩm định tại chỗ là biện pháp thu thập chứng cứ mà Thẩm phán được giao nhiệm vụ giải quyết vụ án thực hiện nhằm xem xét tại chỗ những đối tượng cần phải xem xét liên quan đến vụ án mà không thể mang đến Tòa án xem xét được. Biện pháp thu thập chúng cứ này đòi hỏi Tòa án phải đến tận nơi có tài sản để nghiên cứu, xem xét, đối chiếu các đồ vật, tài sản… mới làm rõ được chứng cứ. Ví dụ: Ông A khởi kiện quyết định thu hồi đất của UBND huyện X vì khi thu hồi đất của ông A có những tài sản trên đất như cây trồng, giếng nước, ao cá…nhưng ông A không được bồi thường đối với các tài sản này. Để biết chính xác trên phần đất bị thu hồi của ông A có những tài sản gì thì Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với phần đất bị thu hồi của ông A. Tòa án xuống phần đất bị thu hồi ghi nhận lại hiện trạng, đặc điểm các tài sản đó để xác định các tài sản đó phải tài sản của ông A đủ điều kiện để được bồi thường khi thu hồi đất hay không để làm căn cứ giải quyết vụ án.
Biện pháp thu thập chứng cứ bằng cách định giá tài sản được thực hiện khi giữa các đương sự có tranh chấp về giá tài sản hoặc có yêu cầu giải quyết việc bồi thường thiệt hại do việc áp dụng quyết định hành chính, hành vi hành chính gây ra thì các đương sự có yêu cầu hoặc Tòa án xét thấy cần thiết thì sẽ tiến hành thủ tục định giá. Các đương sự có quyền cung cấp giá tài sản, thỏa thuận về việc xác định giá tài sản và cung cấp cho Tòa án. Tuy nhiên nếu đương sự không thống nhất được về giá tài sản, khi có yêu cầu của một hoặc các bên đương sự thì Tòa án sẽ tiến hành quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá, quyền quyết định về giá đối với tài sản định giá thuộc Hội đồng định giá.
Trong ba biện pháp thu thập chứng cứ quy định như trên, với đặc thù về đối tượng khởi kiện của VAHC thì chỉ thực hiện được biện pháp thu thập chứng cứ thông qua ủy thác là lấy lời khai của đương sự. Còn các biện pháp thu thập chứng cứ thông qua ủy thác là xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản chỉ phù hợp với vụ án dân sự, còn đối với VAHC thì lại không thi hành trên thực tế được. Bởi vì hiện nay đối tượng khởi kiện của VAHC là khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính; Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống; Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; Khiếu kiện danh sách cử tri; Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước . Trong các đối tượng khiếu kiện trên thì phần lớn các VAHC mà Tòa án các cấp đang thụ lý giải quyết hiện nay là liên quan đến khiếu kiện về quyết định hành chính, hành vi hành chính.
Tùy thuộc vào đối tượng khởi kiện cụ thể mà thẩm quyền thụ lý giải quyết là Tòa án nhân dân (TAND) cấp huyện hoặc TAND cấp tỉnh nhưng đặc thù riêng của VAHC là Tòa án có thẩm giải quyết thường là Tòa án cùng địa giới hành chính với cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước đã ban hành ra quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính bị kiện . Cho nên chứng cứ thu thập thông qua biện pháp là xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản đã nằm trong phạm vi địa giới của Tòa án đang thụ lý giải quyết VAHC, chứ không thể nằm tại một địa phương khác ngoài địa giới hành chính với Tòa án đang giải quyết. Cho nên trong quá tình giải quyết vụ án khi cần thu thập chứng cứ là xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản thì sẽ do chính Tòa án đang thụ lý giải quyết VAHC thực hiện, chứ không thể tiến hành ủy thác cho Tòa án ở nơi khác được.
Còn quy định các biện pháp khác để thu thập tài liệu, chứng cứ, xác minh tình tiết của VAHC có thể hiểu là Luật quy định mang tính chất dự phòng, khi vụ án phức tạp, phát sinh thêm các tình tiết mới thì cũng giúp cho Tòa án có căn cứ thể có thể thu thập được nhiều loại chứng cứ khác nhau để làm sáng tỏ nội dung của vụ án. Ví dụ như qua ủy thác thu thập chứng cứ mà thấy lời khai của đương sự và lời khai của người làm chứng có sự mâu thuẫn, trái ngược với nhau, thì Thẩm phán có thể áp dụng căn cứ pháp lý là các biện pháp khác để thu thập tài liệu, chứng cứ, xác minh tình tiết của VAHC để tiến hành tiếp tục ủy thác cho Tòa án khác thu thập chứng cứ bằng biện pháp cho đối chất giữa người làm chứng và đương sự.
1.2. Không quy định rõ Tòa án nhận ủy thác là Tòa án nào nên việc áp dụng không thống nhất
Tòa án có thể ra quyết định ủy thác để Tòa án khác thực hiện yêu cầu ủy thác khác . Như vậy nơi nhận ủy thác phải là TAND, có thể là TAND cấp huyện, TAND cấp tỉnh, TAND cấp cao. Về nguyên tắc việc ủy thác giữa các Tòa án với nhau phải tiến hành theo nguyên tắc ngang cấp hoặc thấp hơn để không hạn chế quyền ủy thác của Tòa án. Tức là TAND cấp cao có quyền ủy thác thu thập chứng cứ cho TAND tỉnh và TAND cấp huyện. TAND cấp tỉnh có quyền ủy thác cho TAND cấp tỉnh và TAND cấp huyện. TAND huyện chỉ có quyền ủy thác cho Tòa án cấp huyện nơi cần ủy thác. Mặc khác việc ủy thác giữa các Tòa án với nhau phải tiến hành ngoài địa giới hành chính đã được xác định thẩm quyền theo lãnh thổ, bởi vì mỗi Tòa án chỉ có quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi địa giới hành chính huyện, tỉnh đã được xác định. Cho nên Tòa án chỉ tiến hành ủy thác khi chứng cứ cần thu thập nằm ngoài địa giới hành chính do mình quản lý. Ví dụ TAND cấp tỉnh sẽ không được ủy thác cho TAND cấp huyện thuộc tỉnh đó, vì TAND cấp huyện thuộc phạm vi quản lý của TAND cấp tỉnh nên không phát sinh hoạt động ủy thác thu thập chứng cứ với nhau .
Hiện nay Luật TTHC không có quy định rõ là Tòa án cấp nào sẽ là nơi nhận thủy thác thu thập chứng cứ. Qua thực tiễn áp dụng thì nhận thấy cho dù Tòa án cấp nào thực hiện ủy thác thì Tòa án nhận ủy thác cũng sẽ là TAND cấp huyện. Bởi vì TAND cấp huyện là nơi cư trú của đương sự, người làm chứng và cũng là nơi có chứng cứ cần thu thập. Cho nên ủy thác thu thập chứng cứ cho TAND cấp huyện thì có thể giúp cho việc thu thập được chứng cứ nhanh chóng, hiệu quả.
1.3. Không quy định rõ ủy thác thu thập chứng cứ có bao gồm luôn với việc ủy thác tống đạt, thông báo văn bản tố tụng không nên việc thực hiện gặp khó khăn
Trong quá trình giải quyết VAHC ngoài việc Tòa án tiến hành ủy thác thu thập chứng cứ thì Tòa án cũng thực hiện tống đạt văn bản tố tụng, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài như thông báo thụ lý vụ án, quyết định đối thoại, công khai chứng cứ, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử, thông kháng cáo... Căn cứ theo quy định hiện nay là trường hợp việc thu thập tài liệu, chứng cứ phải tiến hành ở nước ngoài thì Tòa án làm thủ tục ủy thác thông qua cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài mà nước đó và nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này hoặc thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái với pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế . Như vậy luật chỉ quy định ủy thác để thu thập tài liệu, chứng cứ chứ không quy định ủy thác tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự. Trong khi đó hoạt động thu thập chứng cứ và hoạt động tống đạt, thông báo văn bản tố tụng là khác nhau hoàn toàn. Mục đích của thu thập chứng cứ là để có chứng cứ để Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp . Còn ủy thác tống đạt các văn bản tố tụng là việc Cơ quan đại diện gửi văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự là công dân Việt Nam ở nước ngoài bằng dịch vụ bưu chính chuyển phát bưu phẩm bảo đảm . Thông báo văn bản tố tụng là việc Cơ quan đại diện niêm yết công khai tại trụ sở, đăng tải trên cổng thông tin điện tử của Cơ quan đại diện văn bản tố tụng của Tòa án để thông báo cho đương sự ở nước ngoài là công dân Việt Nam, người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài . Việc Tòa án thông báo cho đương sự biết về hoạt động tố tụng của Tòa án để họ tham gia tố tụng thông qua việc tống đạt hay thông báo văn bản tố tụng không phải là căn cứ để Tòa án chấp nhận yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu của đương sự hay nói các khác kết quả ủy thác tống đạt, thông báo văn bản tố tụng không làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án .
Chính vì không có quy định pháp luật về ủy thác tống đạt và thông báo văn bản tố tụng, nên trên thực tế nhiều Tòa án đã đồng nhất giữa ủy thác thu thập chứng cứ với ủy thác tống đạt, thông báo văn bản tụng ra nước ngoài là như nhau, và vận dụng quy định của pháp luật về ủy thác thu thập chứng cứ để áp dụng với ủy thác tống đạt, thông báo văn bản tố tụng. Cho nên nhiều nơi áp dụng không được thống nhất và gặp nhiều khó khăn, kết quả ủy thác không đạt hiệu quả như mong muốn. Về việc thực hiện ủy thác thu thập chứng cứ đối với công dân Việt Nam đang cư trú tại nước ngoài qua kênh ngoại giao. Thời gian vừa qua, Bộ Tư pháp đã chuyển một số hồ sơ thu thập chứng cứ đối với công dân Việt Nam đang cư trú tại quốc gia không có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp với Việt Nam qua kênh ngoại giao. Tuy nhiên, qua theo dõi kết quả do cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trả về, Bộ Tư pháp nhận thấy thay vì chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài để thực hiện thu thập chứng cứ, các cơ quan đại diện Việt Nam (như tại Hoa kỳ) đã gửi thông báo yêu cầu đương sự đến nhận giấy tờ và niêm yết các giấy tờ tại trụ sở cơ quan đại diện khi đương sự không có phản hồi, tương tự như việc thực hiện tống đạt giấy tờ đã áp dụng đối với công dân Việt Nam. Việc thực hiện theo phương thức nêu trên không phải là thực hiện ủy thác tư pháp theo kênh ngoại giao đã được quy định tại Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 và Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (khoản 1 Điều 475). Vì vậy, Bộ Tư pháp đề nghị Bộ Ngoại giao (Cục Lãnh sự) đôn đốc, hướng dẫn các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thực hiện đúng công việc ủy thác tư pháp theo yêu cầu .
1.4. Quy định nội dung của quyết định ủy thác thu thập chứng cứ chưa toàn diện, chưa đầy đủ
Để người nhận ủy thác thực hiện việc ủy thác đạt hiệu quả thì trong quyết định ủy thác phải ghi rõ tên, địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện và những công việc cụ thể ủy thác để thu thập tài liệu, chứng cứ . Tuy nhiên quy định này chưa bao quát hết vì trong VAHC còn có thể có sự giam gia của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng. Trường hợp nếu xét thấy cần ủy thác thu thập chứng cứ để lấy lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng thì cần phải đưa tên họ vào trong quyết định ủy thác thì mới có căn cứ, cơ sở để thực hiện việc ủy thác. Trong quyết định ủy thác cần ghi những công việc cụ thể ủy thác là cần thiết để người thực hiện ủy thác biết rõ ràng, cụ thể cần phải thu thập những tài liệu, chứng cứ, nội dung gì phù hợp với vụ án mà Tòa án tiến hành ủy thác yêu cầu. Trong quyết định ủy thác cũng nên ghi tóm tắt nội dung vụ án sẽ giúp cho Tòa án hoặc cơ quan nhận ủy thác biết được nguyên nhân, diễn biến, nội dung của vụ tranh chấp, điều này sẽ giúp cho người thực hiện ủy thác sẽ biết cần tập trung vào vấn đề gì để việc thu thập tài liệu, chứng cứ được hiệu quả.
1.5. Không quy định rõ chi phí thực hiện ủy thác thu thập chứng cứ
Hiện nay không có quy định pháp lý riêng, rõ ràng về chi phí thực hiện ủy thác thu thập chứng cứ trong TTHC, cho nên các Tòa án tham khảo quy định về chi phí thực hiện ủy thác thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự để áp dụng trong việc giải quyết VAHC. Trình tự thủ tục, các khoản chi phí, quy trình thực hiện việc việc ủy thác thu thập chứng cứ trong các VAHC và vụ án dân sự hiện nay được Tòa án áp dụng thực hiện giống nhau .
Chi phí thực hiện ủy thác để thu thập tài liệu, chứng cứ có thể hiểu là các khoản tiền mà đương sự phải trả cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền nhận ủy thác để thực hiện được các công việc ủy thác như là lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, hoặc các biện pháp khác để thu thập tài liệu, chứng cứ, xác minh tình tiết của VAHC. Nhận thấy quy định về chi phí ủy thác thu thập chứng cứ như hiện nay còn gây cho Tòa án một số khó khăn sau:
Thứ nhất: đối với ủy thác thu thập chứng cứ tiến hành trong lãnh thổ Việt Nam
Trong trường hợp tiến hành ủy thác thu thập chứng cứ bằng cách lấy lời khai của đương sự, người làm chứng trong lãnh thổ Việt Nam, thì giữa Tòa án ủy thác và Tòa án nhận ủy thác sẽ có trách nhiệm hỗ trợ, phối hợp với nhau để thực hiện công việc chung trong ngành Tòa án. Đồng thời khi xét thấy cần thiết thì Tòa án phải thu thập chứng cứ mới giải quyết được toàn diện vụ án, do đó việc ủy thác thu thập chứng cứ cũng là trách nhiệm của Tòa án. Cho nên luật không quy định về việc đương sự phải có nghĩa vụ đóng chi phí khi Tòa án thực hiện ủy thác thu thập chứng cứ trong lãnh thổ Việt Nam khi Tòa án giải quyết đối với VAHC là phù hợp và đúng thực tế.
Thứ hai, đối với ủy thác thu thập chứng cứ tiến hành ngoài lãnh thổ Việt Nam
Trường hợp việc thu thập tài liệu, chứng cứ phải tiến hành ở nước ngoài thì Tòa án làm thủ tục ủy thác thông qua cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này hoặc thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái với pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế . Khi thực hiện việc thu thập tài liệu, chứng cứ phải tiến hành ở nước ngoài thì phải phát sinh chi phí tống đạt giấy tờ, phí ủy thác thu thập chứng cứ, phí dịch thuật công chứng ra ngôn ngữ nước ngoài. Việc Tòa án ủy thác thu thập chứng cứ ra nước ngoài là làm thay cho đương sự, để hỗ trợ đương sự thuận lợi trong việc thu thập chứng cứ, do đó đương sự phải chịu tất cả các chi phí ủy thác thu thập chứng cứ ra nước ngoài.
Đương sự là người có nghĩa vụ phải nộp chi phí thực hiện ủy thác tư pháp của Việt Nam đối với các yêu cầu tống đạt văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ để giải quyết vụ việc dân sự . Chi phí thực hiện ủy thác tư pháp của Việt Nam bao gồm phí, lệ phí và chi phí thực tế phát sinh khi thực hiện ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc gia liên quan . Các chi phí thực tế phát sinh trong nước do người có nghĩa vụ nộp chi phí thực hiện ủy thác tư pháp của Việt Nam thanh toán trực tiếp cho người cung cấp dịch vụ. Còn đối với với chi phí thực tế do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thu thì bao gồm 02 trường hợp. Trường hợp 1, là chi phí thực tế đã xác định được theo quy định của phía nước ngoài thì người có nghĩa vụ nộp thanh toán chi phí này với cơ quan có thẩm quyền nước ngoài. Trường hợp 2, chi phí thực tế chưa xác định được tại thời điểm cơ quan có thẩm quyền yêu cầu ủy thác tư pháp của Việt Nam lập hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền yêu cầu ủy thác tư pháp của Việt Nam thông báo cho người có nghĩa vụ nộp chi phí thực hiện ủy thác tư pháp của Việt Nam phải nộp tạm ứng 03 triệu đồng tại cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh nơi cơ quan có thẩm quyền uỷ thác tư pháp về dân sự của Việt Nam có trụ sở . Quy định việc đóng, thu các khoản chi phí rõ ràng như trên sẽ đảm bảo cho việc áp dụng thu và nộp các khoản chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài thuận tiện, thống nhất.
Nhận thấy với quy định khi nộp chi phí ủy thác thì đương sự phải nộp tạm ứng 03 triệu đồng tại cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh nơi cơ quan có thẩm quyền ủy thác tư pháp về dân sự của Việt Nam có trụ sở là phù hợp với thực tiễn của vụ án dân sự, chứ khi áp dụng với VAHC thì cũng không phù hợp. Bởi vì đa số đối với vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài thì thẩm quyền giải quyết là thuộc TAND cấp tỉnh, nên việc nộp tiền tạm ứng chi phí tại cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh là phù hợp. Tuy nhiên đối với VAHC, có những vụ án có yếu tố nước ngoài nhưng thẩm quyền giải quyết vẫn là TAND cấp huyện, mà Luật yêu cầu nộp tiền tạm ứng chi phí tại cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh là chưa phù hợp, gây khó khăn cho Tòa án trong việc yêu cầu đương sự đóng chi phí ủy thác. Có trường hợp khoảng cách địa lý giữa Tòa án cấp huyện nơi đang giải quyết VAHC và cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh rất xa, đặc biệt là những tỉnh ở miền núi rất bất tiện cho đương sự đi lại đóng chi phí ủy thác.
Ví dụ: ông A đang khởi kiện quyết định hành chính của Chủ tịch UBND xã X, huyện Y, tỉnh Z ra TAND huyện Y. Trong quá trình TAND huyện Y đang giải quyết vụ án thì ông A chết. Tòa án phải đưa các người con của ông A tham gia tố tụng với tư cách người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông A. Trong đó có một người con của ông A đang sinh sống tại Hoa Kỳ. TAND huyện Y phải tiến hành ủy thác lấy lời khai người con của ông A tại Hoa Kỳ. Các khoản tạm ứng án phí trước đây ông A đã đóng tại cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Y, là cơ quan thi hành án trên phạm vi địa giới hành chính cùng với TAND huyện Y. Bây giờ các con của ông A lại đóng chi phí ủy thác tư pháp ra Hoa Kỳ, theo quy định của pháp luật thì phải đóng tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Z, như vậy là không tương thích với thẩm quyền giải quyết của Tòa án trong VAHC.
2. Những kiến nghị, đề xuất
Để có thể khắc phục được sự bất cập, vướng mắc như trên, trong Luật TTHC cần phải có quy định rõ ràng, đầy đủ về những nội dung sau:
Thứ nhất: quy định Tòa án được áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ được thông qua thực hiện ủy thác là lấy lời khai của đương sự, lấy lời khai của người làm chứng, đối chất giữa các đương sự, đối chất giữa người làm chứng với đương sự.
Thứ hai: quy định Tòa án được nhận ủy thác thu thập tài liệu, chứng cứ là TAND ngang cấp hoặc TAND cấp thấp hơn nằm ngoài địa giới hành chính với Tòa án ủy thác.
Thứ ba: quy định việc ủy thác tống đạt, thông báo văn bản tố tụng ra nước ngoài trong VAHC cũng là nội dung trong việc ủy thác tư pháp.
Thứ tư: quy định trong vụ án nếu có sự tham gia của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng thì trong quyết định ủy thác cũng phải đưa tên họ vào và trong quyết định ủy thác có thêm tóm tắt nội dung vụ án.
Thứ năm: quy định việc đương sự đóng tiền ủy thác thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tương đương, cùng địa giới hành chính với cấp Tòa án đang thụ lý giải quyết VAHC.
Kết luận
Luật TTHC quy định biện pháp ủy thác thu thập tài liệu, chứng cứ là một trong các biện pháp thu thập chứng cứ là rất cần thiết và phù hợp, là cơ sở để Tòa án có thể thu thập được những chứng cứ khi cần thiết. Do vậy các vấn đề liên quan về nội dung này cần được pháp luật quy định đầy đủ, rõ ràng để có thể mang lại hiệu quả áp dụng trên thực tế.