1. Quy định pháp luật về hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng hành chính
Vụ án hành chính (VAHC) có được Tòa án giải quyết nhanh chóng, chính xác, công bằng, đúng pháp luật hay không phụ thuộc rất lớn vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Để Tòa án ban hành ra quyết định, bản án đúng pháp luật thì phải trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện, khách quan các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình giải quyết vụ án. Với vị trí là cơ quan tiến hành tố tụng, có nhiệm vụ giải quyết VAHC đúng pháp luật, đúng thời hạn nên Tòa án có vai trò quan trọng trong việc xác minh, thu thập chứng cứ. Tùy thuộc vào từng loại chứng cứ mà Tòa án có những biện pháp thu thập khác nhau, áp dụng đối với nhiều chủ thể khác nhau. Thế nhưng có một số trường hợp với cả lý do khách quan và chủ quan các cơ quan, tổ chức, cá nhân có những hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng hành chính (TTHC), làm ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án của Tòa án.
Các các cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTHC rất đa dạng. Có thể là các đương sự trong vụ án; cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước và những người tham gia tố tụng khác như người làm chứng, người giám định, người phiên dịch. Tùy thuộc vào vai trò, vị trí của mỗi chủ thể mà biểu hiện của dạng hành vi vi phạm cũng khác nhau.
Thứ nhất, đối với các đương sự
Các đương sự trong VAHC bao gồm người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan . Do đặc thù khác biệt của VAHC là đối tượng khởi kiện thường là các là quyết định hành chính. Các quyết định hành chính này do phía cơ quan hành chính Nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước ban hành. Trong VAHC thì người khởi kiện sẽ là các cơ quan, tổ chức, cá nhân bị tác động, ảnh hưởng từ quyết định hành chính được ban hành, họ là chủ thể không mang quyền lực Nhà nước . Còn người bị kiện sẽ là cơ quan hành chính Nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước đã ban hành ra quyết định hành chính đó . VAHC chỉ phát sinh khi người khởi kiện nộp đơn khởi kiện ra Tòa án và được Tòa án chấp nhận thụ lý giải quyết. Trong VAHC người khởi kiện luôn có trách nhiệm, chủ động trong việc thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình. Người khởi kiện rất cần có chứng cứ để chứng minh cho nên việc người khởi kiện cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án là hiếm khi xảy ra. Ngược lại phía người bị kiện họ không muốn phát sinh ra VAHC để họ trở thành “bị kiện”. Họ không muốn phía người khởi kiện, Tòa án có chứng cứ để chứng minh được tính bất hợp pháp đối với quyết định hành chính mà mình ban hành. Do đó phía người bị kiện thường có nhữnh hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án hơn so với phía người khởi kiện.
Hành vi được xem là cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTHC của đương sự thể hiện trong các trường hợp như sau:
- Làm giả, hủy hoại chứng cứ quan trọng gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án của Tòa án . Làm giả chứng cứ là đương sự bắt chước làm ra chứng cứ theo ý muốn chủ quan của mình, còn hủy hoại chứ cứ là đương sự làm cho chứng cứ bị hư hỏng, chứng cứ không thể sử dụng được nữa, làm mất đi giá trị chứng minh của chứng cứ.
- Từ chối khai báo, khai báo gian dối hoặc cung cấp . Các đương sự họ là người phải chịu ảnh hưởng bởi phán quyết của Tòa án nên khi tham gia vụ án họ sẽ là đưa ra những tài liệu, chứng cứ chứng minh những yêu cầu hay việc phản đối yêu cầu của mình đối với người khác là có căn cứ và đúng pháp luật. Các đương sự là người biết rõ hơn ai hết những tình tiết, nội dung, nguyên nhân, diễn biến của vụ án, cho nên Tòa án rất cần phải lấy lời khai của họ để làm rõ những vấn đề liên quan trong việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên có nhưng trường hợp đương sự sợ Tòa án lời khai của mình sẽ thu thập được những chứng cứ gây bất lợi cho mình nên không chịu khai báo hoặc khai báo không đúng sự thật cho Tòa án.
- Từ chối cung cấp tài liệu mà không có lý do chính đáng , thông thường quyền lợi của các đương sự trong VAHC thường là đối lập nhau. Tài liệu nào có giá trị chứng minh cho yêu cầu của mình thì đương sự sẽ cung cấp cho Tòa án, còn tài liệu nào bất lợi thì đương sự sẽ giấu đi và không cung cấp cho Tòa án, dẫn đến Tòa án không đủ tài liệu để làm rõ sự thật của vụ án.
- Lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người làm chứng ra làm chứng hoặc buộc người khác ra làm chứng gian dối, người giám định thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người giám định kết luận sai với sự thật khách quan, người phiên dịch thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người phiên dịch dịch không trung thực, không khách quan, không đúng nghĩa . Các hành vi này đương sự can thiệp, tác động một cách cố ý để người làm chứng, người phiên dịch, người giám định không có chứng cứ và không cung cấp được chứng cứ một cách khách quan, hợp pháp cho Tòa án để làm căn cứ giải quyết vụ án.
- Cản trở người tiến hành tố tụng xem xét, thẩm định tại chỗ, quyết định định giá, quyết định trưng cầu giám định hoặc xác minh, thu thập chứng cứ khác . Đương sự gây những khó khăn, trở ngại, làm cho Tòa án tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ không được dễ dàng, suôn sẻ, để Tòa án không có đủ chứng cứ để có thể giải quyết được vụ án nhanh chóng, chính xác.
Thứ hai, đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân
Hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân cản trở cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án thường thể hiện ở dạng không hành động, đó là từ chối cung cấp tài liệu mà không có lý do chính đáng . Trong trường hợp đương sự có yêu cầu Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ hoặc Tòa án nhận thấy có những tài liệu, chứng cứ quan trọng cần phải có để làm căn cứ giải quyết vụ án thì Tòa án cũng có thể chủ động tự mình yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ cung cấp cho mình tài liệu, chứng cứ . Các cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là đương sự trong vụ án, quyết định, bản án của Tòa án không gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của họ. Thế nhưng có những chứng cứ do cơ quan, tổ chức, cá nhân nắm giữ có giá trị chứng minh quan trọng liên quan trong vụ án nhưng họ cố tình không chịu cung cấp khi Tòa án yêu cầu.
Thứ ba, đối với cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước
Hành vi cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án thường thể hiện ở hành vi đó là không cử người tham gia Hội đồng định giá theo yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng; không tham gia thực hiện nhiệm vụ của Hội đồng định giá mà không có lý do chính đáng . Trong VAHC, trên thực tiễn trong các đương sự thì chỉ có phía người khởi kiện yêu cầu thu thập chứng cứ bằng biện pháp là yêu cầu Tòa án ra quyết định định giá tài. Bởi vì người khởi kiện có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ, nên việc chứng minh trước hết phải thuộc về phía người khởi kiện. Căn cứ vào đơn yêu cầu của định giá của người khởi kiện thì Tòa án sẽ ban hành quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá . Hội đồng định giá do Tòa án thành lập gồm Chủ tịch Hội đồng định giá là đại diện cơ quan tài chính và thành viên là đại diện các cơ quan chuyên môn có liên quan. Chính vì Hội đồng định giá là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, là cùng phía với người bị kiện, quyết định định giá ban hành sẽ là chứng cứ có giá trị chứng minh đến tính hợp pháp của QĐHC mà phía người bị kiện ban hành. Cho nên những người tham gia Hội đồng định giá thường ít hỗ trợ Tòa án và không thường không khách quan, vô tư trong việc định giá tài sản trong các VAHC.
Thứ tư, đối với người tham gia tố tụng khác như người làm chứng, người giám định, người phiên dịch
Người làm chứng cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án thể hiện ở hành vi là từ chối khai báo, khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật khi làm chứng . Người làm chứng là người biết, chứng kiến những tình tiết, sự kiện, thông tin liên quan đến vụ án mà Tòa án đang thụ lý giải quyết. Người làm chứng thông thường không có quyền lợi liên quan đến vụ án nên lời khai của họ cũng thường mang tính khách quan cao. Nhưng cũng có trường hợp vì tình cảm riêng tư hoặc có mâu thuẫn với một bên trong vụ án mà người làm chứng khai thêm, bớt, suy diễn theo chủ quan của mình hoặc vì bị đe dọa hoặc bị mua chuộc mà người làm chứng không chịu khai, khai sai sự thật.
Người phiên dịch cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án thể hiện ở hành vi cố ý dịch sai sự thật . Tiếng nói và chữ viết dùng trong TTHC là tiếng Việt. Người tham gia TTHC có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình; trường hợp này phải có người phiên dịch . Người phiên dịch có nghĩa vụ phải dịch sang tiếng Việt chính xác, đầy dủ, đúng những nội dung mà Tòa án yêu cầu. Nhưng cũng có trường hợp vì lợi ích cá nhân, chủ quan, tình cảm riêng tư mà người phiên dịch cố tình dịch không đúng, dịch không hết ý những lời khai, lời trình bày của người tham gia tố tụng trong VAHC.
Người giám định cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án thể hiện ở hành vi từ chối kết luận giám định, kết luận giám định sai sự thật . Kiến thức của những người tiến hành tố tụng cũng có giới hạn, do đó khi đánh giá xem xét các vấn đề thuộc về chuyên môn, lĩnh vực chuyên ngành cũng phải cần có hỗ trợ của cơ quan giám định. Kết luận giám định là kết quả nghiên cứu của giám định viên hoặc người có kiến thức cần thiết về lĩnh vực chuyên môn cần giám định. Kết luận giám định dựa trên cơ sở khoa học nên chứng cứ là kết luận giám định có tính khách quan cao, có giá trị chứng minh rất thuyết phục, giúp cho Tòa án xem xét vật chứng dựa vào khoa học nên rất chính xác. Tuy nhiên kết luận giám định cũng do giám định viên là con người thực hiện, máy móc khoa học kỹ thuật chỉ hỗ trợ cho con người trong việc giám định, con người vẫn có thể can thiệp được vào kết luận giám định. Cho nên nếu người tiến hành giám định ban hành kết luận giám định không khách quan, sai sự thật có thể làm ảnh hưởng đến việc nhận định, đánh giá chứng cứ của Tòa án khi giải quyết vụ án.
2. Thực trạng thi hành pháp luật về xử lý hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng hành chính.
Trên thực tiễn có nhiều hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTHC đã xảy ra nhưng từ trước cho tới nay hiếm có trường hợp nào cơ quan, tổ chức, cá nhân bị xử phạt về hành vi này. Việc không thực hiện xử phạt được các chủ thể khi có hành vi vi phạm này theo chúng tôi xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:
Thứ nhất, Luật quy định hành vi vi phạm bị xử phạt chưa đầy đủ
Luật chỉ quy định hành vi không cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự . Thế nhưng hành vi không cung cấp tài liệu, chứng cứ chỉ là một trong các hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án. Theo quy định tại Điều 318 Luật TTHC thì có quy định tổng cộng là chín hành vi được xem là cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án. Thế nhưng Luật chỉ có quy định một hành vi không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới bị xử phạt, có nghĩa là các hành vi còn lại nếu có vi phạm thì cũng không bị xử phạt là điều không hợp lý. Chính vì vậy cho nên cơ quan, tổ chức, cá nhân khi vi phạm mà vẫn không bị xử phạt gì cho nên họ không có thiện chí, hỗ trợ, phối hợp với Tòa án trong việc thu thập chứng cứ.
Thứ hai, Luật không quy định cách thức xử phạt nên không áp dụng được
Nếu cơ quan, tổ chức, cá nhân không thi hành quyết định của Tòa án về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đó đang quản lý, lưu giữ thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Cá nhân, người đứng đầu cơ quan, tổ chức tùy theo mức độ vi phạm mà có thể bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật . Hiện nay pháp luật chỉ dừng ở mức có ghi nhận, quy định các hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTHC và các chế tài sẽ bị áp dụng xử phạt nhưng cách thức áp dụng thực hiện các chế tài lại chưa có quy định. Cho nên người có thẩm muốn xử phạt cũng không biết cách thực hiện trình tự, thủ tục xử phạt như thế nào, từ đó việc xử phạt vẫn không triển khai thi hành trên thực tế được.
3. Kiến nghị hoàn thiện về xử lý hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng hành chính.
Để có thể áp dụng hiệu quả các biện pháp xử lý đối với các hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTHC. Chúng tôi đưa ra một số ý kiến, đề xuất để hoàn thiện quy định của pháp luật về thực trạng trên như sau:
Thứ nhất, quy định đầy đủ việc xử lý các hành vi vi phạm cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án.
Cần quy định tất cả các hành vi vi phạm cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án đều phải bị xử phạt. Cho nên cần sửa đổi, bổ sung Điều 325 Luật TTHC với nội dung đầy đủ như sau:
“Điều 325. Xử lý hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án theo như quy định tại Điều 318 Luật này thì thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
2. Cá nhân, người đứng đầu cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 1 Điều này tùy theo mức độ vi phạm mà có thể bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật”.
Thứ hai, quy định cụ thể điều chỉnh việc xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án.
Hình thức xử phạt, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi cản trở hoạt động TTHC được thực hiện theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và quy định khác của pháp luật có liên quan , tuy nhiên hiện nay chưa có Nghị định quy định về xử phạt đối với hành vi này. Để việc xử phạt vi phạm hành chính có thể được triển khai, áp dụng vào thực tiễn thì Chính phủ cần ban hành Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi cản trở hoạt động TTHC trong đó có cả hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án. Để có thể áp dụng được biện pháp xử phạt vi phạm hành chính thì các nội dung cơ bản về xử phạt cần được quy định rõ như thẩm quyền xử phạt; đối tượng bị áp dụng hình thức xử phạt; mức xử phạt đối với từng hành vi vi phạm; trình tự, thủ tục xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt…Các nội dung này cần được quy định như sau:
(1) Về thẩm quyền xử phạt
Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án trong TTHC thuộc về Tòa án nhân dân bao gồm: Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa; Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện, Chánh tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự khu vực; Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Chánh tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp cao .
Việc giao quyền xử phạt cho Tòa án như trên hoàn toàn là phù hợp, bởi vì việc áp dụng phạt tiền càng không thể giao người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính bởi lẽ đối tượng bị áp dụng biện pháp phạt tiền có thể sẽ là chính cơ quan hành chính Nhà nước hoặc là người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước. Bởi vì họ có thể là người không hợp tác, không phối hợp, không chịu giao nộp, cung cấp chứng cứ cho Tòa án. Cho nên nếu giao việc phạt tiền cho người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước sẽ không đảm bảo được tính khách quan cũng như hiệu quả của việc áp dụng. Đồng thời Tòa án là chủ thể đã ban hành ra quyết định về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ nên hơn ai hết Tòa án nắm rõ về nội dung chứng cứ cần cung cấp, thời điểm cần cung cấp, ai phải cung cấp chứng cứ…nên giao việc xử phạt cho Tòa án sẽ áp dụng hiệu quả nhất.
(2) Về đối tượng bị áp dụng hình thức xử phạt
Luật TTHC không có quy định hạn chế đối tượng bị áp dụng hình thức xử phạt về hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án. Chỉ cần cơ quan, tổ chức, cá nhân nào có hành vi không thi hành quyết định của Tòa án về không cung cấp tài liệu, chứng cứ thì sẽ bị xử phạt. Như vậy đối tương bị xử phạt rất rộng và đa dạng, có thể là các đương sự, các cán bộ, công chức khác trong cơ quan nhà nước và những người tham gia tố tụng khác như người làm chứng, người giám định, người phiên dịch.
(3) Về hình phạt chính là hình thức phạt tiền
- Đối với mức tiền phạt trong hình thức phạt tiền
Phạt tiền được xem là hình thức xử phạt chính đối với hầu hết các hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực. Áp dụng hình thức phạt tiền cũng phù hợp với các hành vi vi phạm cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án. Hiện nay mức phạt tiền được quy định đối với Thẩm phán chủ tọa phiên tòa được phạt tiền đến 1.000.000 đồng; Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện, Chánh tòa chuyên trách Tòa án nhân dân cấp tỉnh được phạt tiền đến 7.500.000 đồng; Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao được phạt tiền đến 30.000.000 đồng .
Với quy định hiện nay luật chỉ quy định số tiền phạt cụ thể nhưng không có quy định khung tiền phạt bao gồm số tiền phạt tối thiểu và số tiền phạt đối đa đối với từng hành vi vi phạm. Chúng tôi cho rằng cần thiết phải có quy định về số tiền phạt tối thiểu và số tiền phạt đối đa đối với từng hành vi vi phạm để không gây khó khăn, quá cứng nhắc, tạo ra tính linh động cho người có thẩm quyền thuộc Tòa án nhân dân trong việc quyết định mức phạt tiền đối với từng mức độ hành vi cản trở hoạt động TTHC. Việc xác định mức tiền tối thiểu nhằm mục đích bảo đảm tính răn đe của biện pháp và là căn cứ để xác định mức tiền phạt cưỡng chế hoặc mức tiền phạt lũy tiến. Trong khi đó, việc quy định mức tiền phạt đối đa nhằm bảo đảm cho người bị áp dụng có thể thi hành được biện pháp này nhằm bảo đảm tính hiệu quả của biện pháp phạt tiền. Mức tiền phạt tối thiểu, đối đa nên dựa vào mức lương cơ bản mà Nhà nước công bố. Bên cạnh đó pháp luật cần áp dụng mức phạt cưỡng chế trong trường hợp Tòa án đã áp dụng biện pháp phạt tiền nhưng người bị phạt vẫn không thi hành. Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế có thể lặp đi, lặp lại nhiều lần nếu như người vi phạm nghĩa vụ vẫn không thực hiện quyết định của Tòa án. Việc áp dụng mức tiền phạt cưỡng chế trong trường hợp cản trở hoạt động TTHC nhằm tiếp tục tạo sức ép, thể hiện tính răn đe, trừng trị đối với người có hành vi vi phạm .
- Việc xử lý mức tiền phạt
Trong trường hợp người bị phạt là cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước thì người này phải chịu mức nộp phạt bằng tài sản riêng của mình. Còn số tiền phạt thu được không nên quy định phải nộp vào ngân sách Nhà nước. Bởi vì nếu người bị phạt là cơ quan hành chính Nhà nước thì sẽ lấy tiền ngân sách Nhà nước ra nộp phạt, rồi tiền phạt thu được nộp lại vào ngân sách Nhà nước nữa thì không phù hợp, không mang tính chất răn đe được đối với người vi phạm. Nên quy định các khoản tiền phạt thu được từ các đối tượng bị phạt nên chuyển vào một quỹ đặc biệt do Tòa án nhân dân Tối cao quản lý, với mục đích là xây dựng và phát triển các án lệ, trong đó có án lệ về hành chính .
- Việc lập biên bản vi phạm
Nên quy định người có thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt trong Tòa án nhân dân và công chức Tòa án nhân dân có quyền lập biên bản vi phạm đối với các hành vi vi phạm cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ thuộc thẩm quyền xử phạt của Tòa án mình. Việc lập biên bản vi phạm hành chính tuân theo những quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi bổ sung một số điều năm 2021 và các văn bản hướng dẫn liên quan.
(4) Về biện pháp khắc phục hậu quả và cưỡng chế thi hành
Khi cơ quan, tổ chức, cá nhân đã bị xử lý kỷ luật hoặc bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiện hình sự nhưng vẫn cố tình không chịu tự nguyện chấm dứt hành vi vi phạm cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án thì vẫn phải chịu thêm biện pháp pháp khắc phục hậu quả và phải bị cưỡng chế để Tòa án có thể thu thập được chứng cứ làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án được chính xác. Việc bị ban hành quyết định xử phạt không có nghĩa là cơ quan, tổ chức, cá nhân được miễn trách nhiệm giao nộp, cung cấp chứng cứ cho Tòa án. Quy định về biện pháp pháp khắc phục hậu quả và việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt cần tuân theo những quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi bổ sung một số điều năm 2021 và các văn bản hướng dẫn liên quan.
Thứ ba, về xử lý kỷ luật đối với các hành vi vi phạm cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án.
Xử lý kỷ luật là một trong các biện pháp xử lý vi phạm đối với cán bộ, công chức trong trường hợp cá nhân cán bộ, công chức đó không thi hành quyết định của Tòa án về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ mà cá nhân đó đang quản lý, lưu giữ. Nếu cơ quan, tổ chức không thi hành quyết định của Tòa án về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức sẽ bị xử lý kỷ luật.
(1) Về đối tượng bị xử lý kỷ luật
Vì đối tượng khởi kiện của VAHC là các quyết định hành chính do cơ quan hành chính Nhà nước và người có thẩm trong cơ quan hành chính Nhà nước ban hành. Cho nên phần lớn các tài liệu, chứng Tòa án cứ cần thu thập là do phía cơ quan hành chính Nhà nước quản lý, lưu giữ. Cho nên quy định người bị xử lý kỷ luật là cán bộ, công chức không thi hành quyết định của Tòa án về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ là hoàn toàn phù hợp với thực tế và đúng đối tượng.
(2) Về hình thức, nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục bị xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức
Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, hậu quả xảy ra thì người có thẩm quyền xử lý có thể áp dụng một trong các hình thức xử lý là khiển trách, cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm nếu người vi phạm là cán bộ. Nếu đối tượng bị xử lý là công chức thì có thể bị áp dụng một trong các hình thức xử lý là khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc. Tuy nhiên để người có thẩm quyền có thể xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức về hành vi này một cách công bằng, nhanh chóng, phù hợp, bảo tính hiệu quả trong việc xử lý vi phạm về cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án thì phải có văn bản hướng dẫn rõ ràng về đánh giá mức độ hậu quả do hành vi vi phạm của cán bộ, công chức gây ra, để làm căn cứ xử phạt.
Về nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục và các nội dung khác có liên quan đến việc xử lý kỷ luật công chức được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật đối với công chức. Còn đối với cán bộ thì được thực hiện theo quy định của pháp luật, điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội và văn bản của cơ quan, tổ chức có thẩm . Tuy nhiên về căn cứ, trình tự, thẩm quyền xử phạt phải có quy định phù hợp với đặc điểm đối tượng vi phạm về hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án.
Thứ tư, về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi vi phạm cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án.
Truy cứu trách nhiệm hình sự là biện pháp xử lý vi phạm nghiêm khắc nhất trong số các biện pháp xử lý đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm không thi hành quyết định của Tòa án về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đó đang quản lý, lưu giữ. Tùy vào mức độ, biểu hiện của dạng hành vi, tương ứng với hành vi này có thể thuộc một trong các tội danh được quy định tại Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là Tội cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc khai báo gian dối (Điều 382), Tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định, định giá tài sản hoặc từ chối cung cấp tài liệu (Điều 383), Tội mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác trong việc khai báo, cung cấp tài liệu (Điều 384).
Để có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án, nếu người vi phạm là cán bộ, công chức thì pháp luật cần có quy định người đứng đầu, người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của cán bộ, công chức có hành vi vi phạm cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án có trách nhiệm đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cán bộ, công chức có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự. Còn nếu với người vi phạm là cơ quan, tổ chức, cá nhân khác vi phạm thì người nào cũng có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự đối với hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án. Tuy nhiên cũng cần có văn bản hướng dẫn, quy định rõ ràng, phân biệt được rạch ròi của hành vi vi phạm cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án, với mức độ vi phạm nào sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính và mức độ cản trở, mức độ nguy hiểm, hậu quả xảy ra như thế nào là đủ truy cứu trách nhiệm hình sự, từ đó để người có thẩm quyền có căn cứ áp dụng được thống nhất.